logo

Tìm kiếm thuật ngữ

TCVN 5507:2002 Điều 6 khoản 6.1
6 Yêu cầu an toàn trong bảo quản hóa chất nguy hiểm 6.1 Bảo quản hóa chất dễ cháy, nổ 6.1.1 Phải chia thành nhiều khu vực, kho riêng theo mức độ dễ cháy, nổ của các nhóm hóa chất, để bảo quản được an toàn theo qui định trong phụ lục D. 6.1.2 Kho chứa hóa chất dễ cháy, nổ phải cách lu với lửa và nguồn nhiệt. Phải chấp hành nghiêm ngặt các qui định sau: - Cấm đem các vật gây ra lửa vào kho, cấm chiếu sáng bằng lửa, chỉ được chiếu sáng bằng đèn phòng cháy, nổ. Cấm hàn hoặc làm những việc phát ra tia lửa điện gần kho dưới 20 m; - Không đi giầy đinh hoặc có đóng cá sắt đem vào kho. Khi vận chuyển đồ chứa bằng kim loại, cấm quăng quật, kéo lê trên sàn cứng, cấm dùng các dụng cụ gây ra tia lửa - Cấm để các vải lau, giẻ bẩn dính dầu mỡ trong kho; - Các xe chạy bằng ắc qui, thiết bị nâng, xúc bằng điện phải lắp động cơ an toàn phòng nổ. 6.1.3 Kho phải khô ráo, thông thoáng, phải có hệ thống thông gió tự nhiên hay cưỡng bức. Đối với các chất dễ bị ôxy hóa, bay hơi, cháy, nổ bắt lửa ở nhiệt độ thấp phải thường xuyên theo dõi độ ẩm và nhiệt độ. 6.1.4 Bao bì chứa đựng hóa chất dễ cháy, nổ dưới tác dụng của ánh sáng, phải bằng vật liệu hoặc có màu cản được ánh sáng hoặc được bọc bằng các vật liệu ngăn ngừa ánh sáng chiếu vào. Các cửa kính của nhà kho phải được sơn cản ánh sáng hoặc dùng kính mờ. 6.1.5 Chất lỏng dễ cháy, bay hơi phải chứa trong các thùng không rò rỉ và để trong hang hầm hoặc để trong kho thoáng mát, không tồn chứa cùng các chất ôxy hóa trong một kho. 6.1.6 Khi rót chất lỏng dễ cháy vào thùng kim loại tiếp đất vỏ thùng bằng miếng đồng hoặc nhôm, không tiếp đất bằng kim loại đen. 6.1.7 Việc sử dụng điện trong kho phải tuần thủ theo điều 5.1.7 của tiêu chuẩn này.
TCVN 5507:2002 Điều 6 Khoản 6.2.
6 Yêu cầu an toàn trong bảo quản hóa chất nguy hiểm 6.2 Bảo quản chất ăn mòn 6.2.1 Kho chứa hóa chất ăn mòn phải làm bằng các vật liệu không bị chất ăn mòn phá huỷ. Nền nhà kho phải bằng phẳng, xung quanh chỗ để phải có gờ cao ít nhất 0,1 m hoặc rải một lớp cát dày 0,2 – 0,3 m. 6.2.2 Cấm để các chất hữu cơ (như rơm, vỏ bào, mùn cưa, giấy), chất ô xy hóa, chất dễ cháy, nổ trong cùng một kho với hóa chất ăn mòn. Phải phân chia khu vực bảo quản hóa chất ăn mòn theo tính chất của chúng. Hóa chất ăn mòn vô cơ có tính axít, chất ăn mòn có tính kiềm và các chất ăn mòn khác phải bảo quản ở những khu vực hoặc nhà kho riêng. 6.2.3 Mỗi loại axít phải để theo từng khu vực riêng trong kho. Các bình axít phải để theo từng lô và phải có thẻ kho để theo dõi. Giữa các lô phải để lối đi rộng ít nhất là 1 m. Khi sắp xếp hóa chất ăn mòn phải để đúng chiều qui định. 6.2.4 Bao bì chứa hóa chất ăn mòn phải làm bằng vật liệu không bị hóa chất ăn mòn phá huỷ, phải đảm bảo kín; hóa chất ăn mòn dạng lỏng, không được nạp đầy qua hệ số đầy theo qui định. 6.2.5 Những người làm việc trong kho phải thường xuyên kiểm tra độ kín của bao bì, thiết bị chứa đựng hóa chất ăn mòn; định kỳ kiểm tra chất lượng hóa chất và có biện pháp xử lý kịp thời. Khi tiếp xúc phải dùng phương tiện bảo vệ cá nhân.
TCVN 5507:2002 Điều 6 Khoản 6.3
6 Yêu cầu an toàn trong bảo quản hóa chất nguy hiểm 6.3 Bảo quản chất độc 6.3.1 Hóa chất độc phải bảo quản trong kho có tường và nền không thấm nước, không bị ảnh hưởng của lũ lụt, xa nơi đông dân cư, đảm bảo khoảng cách an toàn theo qui định, kho phải có khóa bảo đảm, chắc chắn. 6.3.2 Khi bảo quản, nếu cần san rót, đóng gói lại bao bì, không được thao tác ở trong kho mà phải làm ở nơi thông thoáng, đảm bảo vệ sinh an toàn, hoặc nơi có trang bị hệ thống hút hơi khí độc. 6.3.3 Khí sử dụng các phương tiện cân đong hóa chất độc, đảm bảo không làm rơi vãi hoặc tung bụi ra ngoài. 6.3.4 Trước khi vào kho hóa chất độc phải mở thông các cứa làm thoáng kho. Khi vào phải trang bị đầy đủ các phương tiện bảo vệ cá nhân.
TCVN 5507:2002 Điều 7.1.3
7. Yêu cầu trong vận chuyển hóa chất nguy hiểm 7.1.3 Khi vận chuyển hóa chất nguy hiểm, nhân viên áp tải hoặc người vận chuyển, phải biết rõ tính chất hóa lý của hóa chất, biện pháp đề phòng và cách giải quyết các sự cố. Khi đi theo hàng, nhân viên áp tải hoặc người vận chuyển phải mang theo đầy đủ phương tiện bảo vệ cá nhân.
TCVN 5507:2002: Điều 5 khoản 5.1.
5 Yêu cầu an toàn trong sản xuất, kinh doanh và sử dụng hóa chất nguy hiểm 5.1 Hóa chất dễ cháy nổ 5.1.1 Cơ sở có hóa chất nguy hiểm, đặc biệt là hóa chất dễ cháy, nổ đều phải thực hiện đúng các qui trình kỹ thuật để đảm bảo hỗn hợp, khí, hơi bụi của các hóa chất này với không khí luôn ngoài vùng giới hạn cháy nổ theo qui định trong phụ lục B, C và bảo quản theo phụ lục D. 5.1.2 Cơ sở có hóa chất dễ gây cháy, nổ phải đăng ký với các cơ quan có thẩm quyền ở địa phương và phải lập và thực hiện kế hoạch phòng cháy, nổ, bảo vệ môi trường theo qui định. 5.1.3 Khi xây dựng các kho chứa, các cơ sở sản xuất, sử dụng hóa chất dễ cháy, nổ phải tuân theo các qui định về cự ly an toàn, các cấp bậc chịu lửa của công trình và việc bố trí giao thông đi lại của người và phương tiện phải tuân theo các qui định trong TCVN 2622: 1995. 5.1.4 Nơi sản xuất, sử dụng hóa chất dễ cháy, nổ phải có lối thoát nạn, phải có các buồng phụ. Những buồng phụ này phải cách ly với buồng chính bằng các cấu kiện ngăn chặn có giới hạn chịu lửa nhỏ nhất là 1,5 giờ. 5.1.5 Cơ sở có hóa chất dễ cháy, nổ ngoài việc phải trang bị đẩy đủ các phương tiện và chất chữa cháy thích hợp, phải trang bị thêm các phương tiện bảo vệ cá nhân chống độc thích hợp khi chữa cháy. 5.1.6 Trong khu vực sản xuất, sử dụng và kho tàng chứa các hóa chất dễ cháy, nổ phái qui định chặt chẽ chế độ dùng lửa . Khi cần thiết sửa chữa cơ khí, hàn điện hay hàn hơi phải có quy trình làm việc làm việc an toàn phòng cháy, nổ, có xác nhận bảo đảm của cán bộ an toàn lao động. 5.1.7 Hệ thống điện ở những nơi có hóa chất dễ chay, nổ phải đảm bảo các yêu cầu sau: - Dụng cụ điện, thiết bị điện đều phải là loại an toàn cháy, nổ và có cấp phòng nổ tương ứng với môi trường hơi, khí dễ cháy nổ; - Không được đặt dây cáp điện trong cùng một đường rãnh ngầm hoặc nổi có ống dẫn hơi khí, chất lỏng dễ cháy, nổ. Không được dùng các đường ống này làm vật nối đất tự nhiên; - Cầu dao, cầu chì, ổ cắm điện phải đặt ở ngoài khu vực chứa các hóa chất dễ cháy, nổ. Bất kỳ nhánh dây điện nào cũng đều phải có cầu chì hay thiết bị bảo vệ tương đương; - Hệ thống điện chiếu sáng phải là loại phòng nổ, phải ngăn ngừa sự xâm nhập của hơi khí, bụi dễ cháy, nổ vào thiết bị chiếu sáng; - Khi sửa chữa, thay thế thiết bị điện thuộc nhánh nào thì phải cắt điện dẫn vào nhánh đó và treo bảng cấm đóng điện. Chỉ người chịu trách nhiệm, có kỹ thuật về điện mới được làm việc này. 5.1.8 Máy móc, thiết bị làm việc trong khu vực hóa chất dễ cháy, nổ đều phải an toàn phòng chống cháy, nổ . Khi thiết kế , chế tạo, vận hành phải phù hợp yêu cầu của TCVN 3255: 1986. Dụng cụ làm việc trong khu vực hóa chất dễ cháy, nổ đều phải làm bằng vật liệu không phát sinh tia lửa do ma sát hay va đập. 5.1.9 Trước khi đưa vào đường ống hay thiết bị một chất có khả năng gây cháy, nổ, hoặc trước và sau khi sửa chữa đều phải thực hiện nghiêm ngặt các qui trình phòng cháy,nổ: - Thử kín, thử áp (nếu cần); - Thông rửa bằng môi chất thích hợp hoặc khí trơ; - Xác định hàm lượng ôxy hay thiết bị một chất có khả năng gây cháy, nổ còn lại sao cho không còn khả năng tạo hỗn hợp cháy, nổ. 5.1.10 Thiết bị , bao bì chứa chất hóa lỏng dễ cháy, nổ đều phải giữ đúng hệ số đầy qui định tuỳ theo đặc tính hóa lý của chất lỏng đó. Thiết bị lớn phải có van xả một chiều, van ngắt lửa kèm bích an toàn phòng nổ. Bích an toàn phòng nổ làm bằng vật liệu không cháy, nổ. Đầu ống dẫn hóa chất dễ cháy, nổ vào phải sát mép hoặc sát đáy thiết bị. Thiết bị có áp suất, phải sát có ban an toàn xả qua áp. Phải thường xuyên kiểm tra các thiết bị này. 5.1.11 Không để hóa chất dễ cháy, nổ cùng chỗ với các chất duy trì sự cháy (như ôxy hoặc các chất nhả ôxy…). Đường ống dẫn hóa chất dễ cháy, nổ không đi chung với giá đỡ đường ống ôxy, không khí nén. 5.1.12 Không dùng khí nén có ôxy để nén đẩy hóa chất dễ cháy, nổ từ thiết bị này sang thiết bị khác. Khi san rót hóa chất dễ cháy, nổ từ bình này sang bình khác, phải tiếp đất bình chứa và bình rót. 5.1.13 Cấm để thiết bị, đường ống chứa hóa chất dễ cháy, nổ gần nguồn phát nhiệt, Đối với trường hợp có ánh nắng mặt trời chiếu trực tiếp, phải có biện pháp hạ nhiệt (sơn phản xạ hoặc tưới nước…). 5.1.14 Không được đun nóng hóa hóa chất lỏng dễ cháy bằng ngọn lửa trực tiếp. Chỉ được mở nắp sau khi đã đun xong và hỗn hợp bên trong đã đủ nguội. 5.1.15 Khi pha dung môi vào khối hóa chất lỏng ở thiết bị hở phải cách xa vùng có lửa ít nhất 10m. Chỉ được pha dung môi vào khối hóa chất lỏng khi nhiệt độ khối hóa chất lỏng thấp hơn nhiệt độ sôi của dung môi. 5.1.16 Không dùng ngọn lửa trực tiếp soi sáng để tìm chỗ hở các đường ống dẫn, thiết bị chứa các hóa chất dễ cháy, nổ mà phải dùng nước xà phòng hay các chất khác không có khả năng gây cháy, nổ với các hóa chất trong ống dẫn thiết bị. 5.1.17 Trong quá trình sản xuất hoặc sử dụng các hóa chất dễ cháy, nổ. Việc sử dụng các chất thêm vào phải đảm bảo các yêu cầu sau: - Thực hiện đúng qui trình công nghệ sản xuất; - Biết rõ ảnh hưởng của chất thêm vào đối với tính chịu nhiệt, tính dễ cháy, nổ của loại hóa chất dễ cháy, nổ đó; - Chất thêm vào không có tạp chất lạ (bị nhiễm bẩn). 5.1.18 Để hàn thiết bị, ống dẫn trước đây có chứa hóa chất dễ cháy, nổ, phải mở hết các nắp thiết bị, mặt bích ống dẫn và làm thoát hết khí dễ cháy, nổ ra ngoài, thau rửa sạch đảm bảo không còn khả năng tạo thành hỗn hợp cháy, nổ khi đí mới được tiến hành hàn. 5.1.19 Khi sơn xì, nhất là sơn trong diện tích kín phải đảm bảo hỗn hợp sơn với không khí ở ngoài vùng giới hạn nổ và tránh hiện tượng tĩnh điện gây ra cháy, nổ. 5.1.20 Trong quá trình sản xuất, kinh doanh, sử dụng hóa chất dễ cháy, nổ phải đảm bảo yêu cầu vệ sinh an toàn lao động. Phải có ống dẫn nước, hệ thống thoát nước; tránh sự ứ đọng của các loại hóa chất dễ gây cháy, nổ. 5.1.21 Trong khu vực có hóa chất dễ cháy, nổ đều phải thông thoáng bằng thông gió tự nhiên hoặc cưỡng bức. Bố trí thiết bị thông gió phù hợp với mặt bằng sản xuất và tỷ trọng của hơi, khí dễ cháy, nổ để tránh sự tích tụ của hơi, khí dễ cháy, nổ đó. 5.1.22 Khi xảy ra cháy ở khu vực có máy thông gió đang hoạt động phải lập tức dừng máy thông gió lại để cháy không lan rộng ra những vùng khác, rồi áp dụng các biện pháp chữa cháy phù hợp. 5.1.23 Khi xảy ra sự cố cháy, nổ, mọi người có mặt đều phải dùng phương tiện bảo vệ cá nhân tham gia cứu chữa người bị nạn và chữa cháy. Những người không có phương tiện bảo vệ cá nhân đảm bảo an toàn không được tham gia chữa cháy. Người gọi điện thoại báo công an phóng cháy chữa cháy và y tế cấp cứu, phải chỉ dẫn địa chỉ rõ ràng và trực tiếp đón dẫn đường nhanh nhất.
TCVN 6719:2000 Điều 4
4. Yêu cầu an toàn 4.1. Yêu cầu chung 4.1.1. Chức năng dừng khẩn cấp phải quan trọng hơn tất cả các chức năng khác trong toàn bộ chức năng hoạt động của máy và không được làm giảm bất kỳ điều kiện thuận lợi nào đã được thiết kế để con người tránh được sự căng thẳng. Không được có bất kỳ một lệnh khởi động nào được thực hiện (có chủ định, không có chủ định hoặc ngẫu nhiên) cho đến khi chức năng dừng khẩn cấp chưa được lắp đặt lại. Chú thích 3 – Khi cơ cấu dừng khẩn cấp không nối ghép (ví dụ các dây treo xách tay) hoặc khi máy có thể tách rời riêng biệt thì nên cẩn thận để tránh nhầm lẫn giữa các cơ cấu điều khiển hoạt động và cơ cấu điều khiển không hoạt động. 4.1.2. Chức năng dừng khẩn cấp không được dùng để thay thế cho các phương tiện che chắn bảo vệ và các chức năng giới hạn bảo vệ an toàn khác nhưng nên thiết kế là một thiết bị dự phòng (ví dụ trong trường hợp hỏng hóc). 4.1.3. Chức năng dừng khẩn cấp không được làm giảm hiệu quả của các cơ cấu bảo vệ hoặc các cơ cấu có chức năng giới hạn an toàn khác. Chú thích 4 – Để thực hiện được yêu cầu này, phải bảo đảm hoạt động liên tục của thiết bị trợ giúp như mâm cặp từ hoặc cơ cấu phanh. 4.1.4. Chức năng dừng khẩn cấp phải được thiết kế sao cho sau khi tác động vào cơ cấu dừng khẩn cấp hoạt động của máy phải dừng lại một cách phù hợp không tạm thêm nguy hiểm theo sự đánh giá ảnh hưởng. Chú thích 5 – Trạng thái “dừng một cách phù hợp” có thể bao gồm: - lựa chọn hệ số giảm tốc tối ưu; - chọn cấp dừng (xem 4.1.5); - thực hiện quy trình dừng máy theo quy định. 4.1.5. Dừng khẩn cấp phải được làm việc theo cấp dừng 0 và cấp 1 (xem 9.2.2 của IEC 204-1:1992), mà đó là việc ngắt nguồn năng lượng cung cấp cho cơ cấu khởi động máy. Chú thích 6 – Các ví dụ về ngắt năng lượng: - ngắt điện vào động cơ điện; - nhả khớp các chi tiết chuyển động khỏi nguồn của cơ năng; - chặn năng lượng chất lỏng cung cấp đến pittông. Sự lựa chọn cấp dừng khẩn cấp phải được xác định bằng sự đánh giá ảnh hưởng của máy (xem 9.2.5.4 của IEC 204-1:1992). 4.2. Các yêu cầu riêng đối với thiết bị điện Các yêu cầu riêng với thiết bị điện cho trong 9.2.2, 9.2.5.4 và 10.7 của IEC 204-1:1992. 4.3. Điều kiện làm việc và ảnh hưởng của môi trường Các bộ phận và chi tiết dùng cho chức năng dừng khẩn cấp (xem phụ lục A) phải được lựa chọn, lắp ráp, liên kết với nhau và được bảo vệ để có thể hoạt động chính xác trong điều kiện làm việc và ảnh hưởng của môi trường đã dự tính. Quá trình này phải xem xét: - tần suất hoạt động, trong trường hợp không hoạt động thường xuyên phải được thử định kỳ; - độ rung, va đập, nhiệt độ, bụi bẩn, các vật lạ, vật liệu ăn mòn, chất lỏng v.v… 4.4. Các yêu cầu đối với cơ cấu dừng khẩn cấp 4.4.1. Cơ cấu dừng khẩn cấp phải được thiết kế để dễ khởi động với người thao tác và với những người khác cần thiết điều khiển. Các dạng khởi động có thể được sử dụng: - nút ấn; - dây, cáp, thanh; - tay cầm; - trong trường hợp đặc biệt có thể dùng bàn đạp không có bao che. 4.4.2. Cơ cấu dừng khẩn cấp phải được lắp đặt tại mỗi trạm điều khiển và tại các nơi cần dừng khẩn cấp. Các cơ cấu này phải được bố trí để người thao tác và những người khác cần sử dụng dễ tiếp cận và vận hành an toàn Chú thích 7 – Các phương tiện chống sự thao tác vô ý phải dễ tiếp cận cho người thao tác. 4.4.3. Các cơ cấu dừng khẩn cấp phải áp dụng nguyên lý tác động cơ học chủ động (xem 3.5 của ISO/TR 12100-2:1992). Chú thích 8 – Ví dụ về áp dụng nguyên lý này là một cơ cấu dừng khẩn cấp sử dụng công tắc điện có thao tác mở chủ động. Theo IEC 947-5:1990 (điều 3.2.2) thao tác mở chủ động (của một tiếp điểm) đạt được là nhờ sự tách rời công tắc theo hướng chuyển động xác định của dẫn động ngắt mạch thông qua các chi tiết không đàn hồi (không phụ thuộc vào lò so). 4.4.4. Ngay khi lệnh dừng khẩn cấp được đưa ra khi khởi động cơ cấu dừng khẩn cấp, lệnh phải được duy trì cho đến khi cơ cấu khởi động bắt đầu làm việc. Lệnh dừng khẩn cấp phải được duy trì cho đến khi cơ cấu dừng khẩn cấp khởi động lại (nhả khớp). Cơ cấu dừng khẩn cấp không thể được ăn khớp khi không có lệnh dừng. Trong trường hợp hư hỏng cơ cấu dừng khẩn cấp (bao gồm các biện pháp ăn khớp) sự phát sinh lệnh dừng sẽ phải ưu tiên trên biện pháp ăn khớp. 4.4.5. Việc khởi động lại (nhả khớp) cơ cấu dừng khẩn cấp chỉ có thể thực hiện bằng tay vào chính cơ cấu này. Sự khởi động lại cơ cấu dừng khẩn cấp không được tạo bằng chính nó mà phải bằng lệnh khởi động lại. Máy không thể khởi động lại cho đến khi toàn bộ cơ cấu dừng khẩn cấp chưa được đặt lại vị trí ban đầu. 4.4.6. Bộ khởi động của cơ cấu dừng khẩn cấp phải được sơn màu đỏ. Nền sơn màu vàng. Khi dùng dây kim loại hoặc dây cáp làm khởi động từ có thể sử dụng cờ hiệu gắn trên dây để tăng khả năng nhìn thấy Trong một số trường hợp, có thể sử dụng thêm dấu hiệu như chỉ dẫn trên hình 2. Chú thích 9 – Đối với thiết bị điện xem điều 10.2.1 của IEC 204-1:1994. Hình 2 - Dấu hiệu cho cơ cấu dừng khẩn cấp (IEC 417-5638) 4.5. Các yêu cầu bổ sung cho dây kim loại và dây cáp được sử dụng như bộ khởi động 4.5.1. Cần xem xét một số vấn đề sau: - giá trị thực của sai lệch cần thiết để tạo ra lệnh dừng khẩn cấp; - độ lệch lớn nhất có thể; - khe hở nhỏ nhất giữa dây kim loại hoặc dây cáp và đối tượng gần nhất trong vùng lân cận; - lực tác dụng đến dây kim loại hoặc dây cáp để thao tác cơ cấu dừng khẩn cấp; - các dây kim loại hoặc dây cáp phải dễ nhìn thấy với người thao tác (ví dụ sử dụng các cờ hiệu). 4.5.2. Phải tự động phát ra lệnh dừng khẩn cấp trong trường hợp dây kim loại hoặc dây cáp bị đứt hoặc tuột bởi các ứng dụng ngoại tệ (ví dụ việc mở khuôn đúc) yêu cầu này khó thực hiện được. Trong trường hợp như vậy, phải chuyển đổi biện pháp an toàn. 4.5.3. Các phương tiện đặt lại cơ cấu dừng khẩn cấp về vị trí ban đầu phải được bố trí sao cho toàn bộ chiều dài của dây kim loại hoặc dây cáp có thể nhìn thấy được từ vị trí đặt lại. Nếu điều này không thực hiện được thì hướng dẫn sử dụng các vấn đề sau; sau khi khởi động và trước khi đặt lại cơ cấu dừng khẩn cấp về vị trí ban đầu phải kiểm tra theo toàn bộ dây kim loại hoặc dây cáp để phát hiện ra nguyên nhân hoạt động
TCVN 6721:2000 Điều 4
4. Khe hở nhỏ nhất 4.1. Các phương pháp sử dụng của tiêu chuẩn này: Phương pháp sử dụng trong tiêu chuẩn phải theo điều 5 “chiến lược lựa chọn các biện pháp an toàn” của ISO/TR 12100-1:1992. Người sử dụng tiêu chuẩn này phải: a) nhận biết được các nguy hiểm kẹp dập; b) đánh giá các ảnh hưởng từ các mối nguy hiểm phù hợp với ISO/TR 12100-1, chú ý đặc biệt đến các vấn đề sau: - để lường trước ảnh hưởng từ nguy hiểm kẹp dập liên quan đến các bộ phận khác của cơ thể phải sử dụng giá trị khe hở nhỏ nhất cho trong bảng 1 liên quan đến phần lớn nhất của cơ thể (xem d); - nếu trẻ em có mặt trong những người có thể bị ảnh hưởng và không lường trước được các hành vi của trẻ em và kích thước của chúng; - bộ phận của cơ thể có thể đưa vào vùng dễ kẹp dập có hình dạng khác với chỉ dẫn trên bảng 1. - cần tính đến trang bị bảo hộ dày hoặc cồng kềnh (ví dụ quần áo bảo hộ đối với nhiệt độ cao) hoặc dụng cụ; - người thao tác máy đi giầy có đế cao sẽ làm tăng kích thước thực của bàn chân; c) lựa chọn khe hở nhỏ nhất trên bảng 1 tương ứng với bộ phận cơ thể dễ bị ảnh hưởng (xem phụ lục A); d) nếu khe hở nhỏ nhất chọn theo bảng 1 không đủ an toàn thì phải dùng các biện pháp hoặc phương tiện khác hoặc dùng các biện pháp bổ sung (xem ví dụ ISO/TR 12100-1, ISO/TR 12100-2 và TCVN 6720:2000 (ISO 13852); Nếu khe hở nhỏ nhất dùng cho bộ phận lớn của cơ thể không đạt yêu cầu thì ví dụ sau sẽ đưa ra một biện pháp hạn chế sự tiếp cận của các bộ phận nhỏ hơn: VÍ DỤ Có thể ngăn ngừa các bộ phận lớn hơn của cơ thể tiếp cận vùng dễ kẹp dập bằng cách dùng các kết cấu bảo vệ có độ mở hạn chế xem chỉ dẫn trên hình 1. Khả năng tiếp cận vùng dễ kẹp dập đối với các bộ phận đặc biệt của cơ thể phụ thuộc vào những điều sau: - khe hở a giữa bộ phận cố định và bộ phận chuyển động hoặc giữa hai bộ phận chuyển động; - chiều sâu b của vùng dễ kẹp dập; - kích thước c của độ mở trong kết cấu bảo vệ và khoảng cách d của nó so với vùng dễ kẹp dập. Chú thích - Các kích thước độ mở có liên quan đến khoảng cách an toàn được giới thiệu trong TCVN 6720:2000 (ISO 13852). Đối với một số trường hợp, có thể có các lý do chính đáng để sử dụng khe hở nhỏ nhất khác với các giá trị cho trong bảng 1. Trong trường hợp này, tiêu chuẩn được áp dụng phải có đầy đủ các điều kiện an toàn thích hợp. 4.2. Các giá trị Bảng 1 đưa ra các giá trị cho khe hở nhỏ nhất để tránh kẹp dập đến bộ phận cơ thể. Để lựa chọn khe hở nhỏ nhất thích hợp, xem 4.1.
TCVN 7014:2002 Điều 4
4. Khoảng cách an toàn để ngăn không cho chân người không chạm tới vùng nguy hiểm 4.1. Qui định chung 4.1.1. Điều kiện Khoảng cách an toàn phải thỏa mãn các điều kiện sau: a) các kết cấu bảo vệ và bất kỳ khe hở nào trong khoảng cách phải giữ nguyên hình dáng và vị trí; phải xem xét các biện pháp khác để đạt được sự an toàn; b) khoảng cách an toàn được đo từ bề mặt giới hạn cơ thể hoặc phần có liên quan của cơ thể. 4.1.2. Đánh giá rủi ro Việc đánh giá rủi ro (xem ISO 12100-1 và ISO 14121) phải được tiến hành trước khi xác định yêu cầu khoảng cách an toàn để ngăn không cho chạm tới vùng nguy hiểm Tiêu chuẩn này được sử dụng nếu sự đánh giá rủi ro chỉ đối với chân người, còn nơi nguy hiểm đối với cả chân và tay người thì khe hở với khoảng cách an toàn lớn nhất được cho trong Bảng 1 của tiêu chuẩn này hoặc trong Bảng 4 của TCVN 6720:2000 (ISO 13852:1996). Khoảng cách an toàn nhỏ nhất s, cho trong Bảng 1 áp dụng cho tầm với qua khe hở khi chân người vươn tới vùng nguy hiểm. 4.2. Tầm với qua khe hở đối với chân người 4.2.1. Khe hở cân đối Trong Bảng 1 kích thước e của khe hở tương ứng với cạnh của khe hở vuông, đường kính của khe hở tròn hoặc kích thước hẹp nhất của khe hở dạng rãnh. Các khe hở dạng rãnh có e >180mm và các khe hở vuông hoặc tròn có e > 240 mm sẽ lọt qua toàn thể cơ thể. Các giá trị cho trong Bảng 1 không tính đến quần áo hoặc giầy dép. 4.2.2. Khe hở không cân đối Để xác định khe hở có hình dạng không cân đối phải tiến hành các bước sau: a) Trước tiên cần xác định: - đường kính của khe hở tròn nhỏ nhất - cạnh của khe hở vuông nhỏ nhất - chiều rộng của khe hở dạng rãnh hẹp nhất có thể được đưa hoàn toàn vào khe hở không cân đối (xem diện tích gạch mặt cắt trên Hình 1); b) Lựa chọn ba khoảng cách an toàn tương ứng với Bảng 1; c) Có thể lựa chọn khoảng cách an toàn ngắn nhất trong ba khoảng cách được chọn theo b).
TCVN 7302-1:2007 Điều 3, Điều 4
3. Thuật ngữ và định nghĩa Tiêu chuẩn này áp dụng các thuật ngữ và định nghĩa sau: 3.1. Tổn hại (harm) Sự tổn thương vật lý hoặc thiệt hại đến sức khỏe [định nghĩa 3.5, TCVN 7383-1:2004]. 3.2. Mối nguy hiểm (hazard) Nguồn tiềm tàng của các tổn hại. CHÚ THÍCH 1 Thuật ngữ "mối nguy hiểm" có thể đủ khả năng để định nghĩa nguồn gốc của nó (ví dụ, mối nguy hiểm cơ khí, mối nguy hiểm điện) hoặc bản chất của tổn hại tiềm tàng (ví dụ, mối nguy hiểm điện giật, mối nguy hiểm cắt, mối nguy hiểm chất độc hại, mối nguy hiểm cháy). CHÚ THÍCH 2 Mối nguy hiểm được dự tính trong định nghĩa sau: - Hoặc xuất hiện thường xuyên trong quá trình sử dụng máy đúng (ví dụ, chuyển động của các bộ phận chuyển động nguy hiểm, hồ quang điện trong quá trình hàn, tư thế làm việc có hại cho sức khỏe, sự phát ra tiếng ồn, nhiệt độ cao). - Hoặc có thể xuất hiện bất ngờ (ví dụ, nổ, mối nguy hiểm bị nghiền nát, do sự khởi động vô tình/bất ngờ, sự phụt ra do đổ vỡ, rơi do tăng tốc/giảm tốc). [định nghĩa 3.6, TCVN 7383-1:2004]. 3.3. Vùng nguy hiểm (hazard zone/danger zone) Không gian bất kỳ bên trong và/hoặc xung quanh máy trong đó con người có thể bị phơi ra trước mối nguy hiểm. [định nghĩa 3.10, TCVN 7383-1:2004]. 3.4. Sự kiện nguy hiểm (hazardous event) Sự kiện có thể gây ra tổn hại. CHÚ THÍCH Một sự kiện nguy hiểm có thể xuất hiện trong khoảng thời gian ngắn hoặc sau một thời gian. 3.5. Tình trạng nguy hiểm (hazardous situation) Hoàn cảnh trong đó con người bị phơi ra trước ít nhất là một mối nguy hiểm. CHÚ THÍCH Sự phơi ra có thể dẫn đến tổn hại ngay lập tức hoặc sau một thời gian. [định nghĩa 3.9, TCVN 7383-1:2004]. 3.6. Sử dụng máy đúng (Intended use of a machine) Sử dụng máy phù hợp với thông tin được cung cấp trong bản hướng dẫn sử dụng. [định nghĩa 3.22, TCVN 7383-1:2004]. 3.7. Máy (machinery, machine) Cụm các chi tiết hoặc bộ phận liên kết với nhau, trong đó ít nhất có một chi tiết hoặc bộ phận chuyển động với các cơ cấu dẫn động máy thích hợp, các mạch điều khiển và công suất được nối ghép với nhau, dùng cho một ứng dụng riêng, đặc biệt là cho gia công, xử lý, di chuyển hoặc bao gói vật liệu. CHÚ THÍCH Thuật ngữ "máy" cũng bao hàm một cụm các máy để đạt được cùng một mục đích, được bố trí và điều khiển sao cho chúng hoạt động như một máy. [định nghĩa 3.1, TCVN 7383-1:2004] 3.8. Sự trục trặc (malfunction) Sự hư hỏng của máy khi thực hiện một chức năng đã định. CHÚ THÍCH Để làm ví dụ, xem 5.3b), Mục 2, TCVN 7383-1:2004. 3.9. Biện pháp bảo vệ (protective measure) Biện pháp dùng để đạt được mục đích giảm rủi ro. CHÚ THÍCH 1 Biện pháp bảo vệ được thực hiện: - Bởi người thiết kế (thiết kế an toàn vốn có, các biện pháp che chắn và các biện pháp bảo vệ bổ sung, thông tin cho sử sung). - Bởi người sử dụng (tổ chức: các quy trình làm việc an toàn, giám sát, các hệ thống cho phép làm việc; sử dụng các rào chắn bổ sung; sử dụng trang thiết bị bảo vệ cá nhân; đào tạo). CHÚ THÍCH 2 Xem Hình 1, TCVN 7383-1:2004 [định nghĩa 3.18, TCVN 7383-1:2004]. 3.10. Sử dụng sai quy cách hợp lý thấy trước (reasonably foreseeable misuse) Sử dụng máy theo cách không đúng dự định của người thiết kế nhưng cách sử dụng này có thể là do hành vi đoán trước được của con người. [định nghĩa 3.23, TCVN 7383-1:2004]. 3.11. Rủi ro dư (residual risk) Rủi ro còn lại sau khi đã thực hiện các biện pháp bảo vệ. CHÚ THÍCH Xem Hình 1, TCVN 7383-1:2004. [định nghĩa 3.12, TCVN 7383-1:2004]. 3.12. Rủi ro (disk) Sự kết hợp của xác suất xảy ra tổn hại và tính nghiêm trọng của tổn hại này. [định nghĩa 3.11, TCVN 7383-1:2004]. 3.13. Phân tích rủi ro (risk analysis) Sự kết hợp của đặc tính các giới hạn của máy, sự nhận biết mối nguy hiểm và dự đoán rủi ro. [định nghĩa 3.14, TCVN 7383-1:2004]. 3.14. Đánh giá rủi ro (risk assessment) Toàn bộ quá trình bao gồm phân tích rủi ro và đánh giá mức rủi ro. [định nghĩa 3.13, TCVN 7383-1:2004]. 3.15. Dự đoán rủi ro (risk estimation) Xác định tính nghiêm trọng có thể có của tổn hại và khả năng xảy ra rủi ro. [định nghĩa 3.15, TCVN 7383-1:2004]. 3.16. Đánh giá mức rủi ro (risk evaluation) Xét đoán dựa trên cơ sở phân tích rủi ro xem các mục tiêu giảm rủi ro có đạt được hay không. [định nghĩa 3.16, TCVN 7383-1:2004]. 3.17. Công việc (task) Hoạt động cụ thể do một hoặc nhiều người thực hiện trên hoặc trong vùng lân cận của máy trong toàn bộ chu kỳ tuổi thọ của máy. 4. Nguyên tắc chung 4.1. Khái niệm cơ bản Đánh giá rủi ro là một loạt các bước có tính logic làm cho sự phân tích và đánh giá mức rủi ro gắn liền với máy theo một cách có hệ thống. Đánh giá rủi ro được kèm theo sau là sự giảm rủi ro khi cần thiết như đã mô tả trong Điều 5, TCVN 7383-1:2004. Có thể cần phải lặp lại quy trình này để loại bỏ đến mức tối đa các mối nguy hiểm và giảm đi một cách đầy đủ các rủi ro bằng việc thực hiện các biện pháp bảo vệ. Đánh giá rủi ro bao gồm các nội dung sau (xem Hình 1). a) phân tích rủi ro: 1) xác định các giới hạn của máy (xem Điều 5); 2) nhận biết mối nguy hiểm (xem Điều 6); 3) dự đoán rủi ro (xem Điều 7); b) đánh giá mức rủi ro (xem Điều 8). Phân tích rủi ro cung cấp thông tin yêu cầu cho đánh giá mức rủi ro, và đánh giá mức rủi ro cho phép xét đoán về việc cần phải giảm rủi ro hay không. Các xét đoán này phải được trợ giúp bởi sự dự đoán rủi ro về mặt định tính hoặc định lượng nếu thích hợp, gắn liền với các mối nguy hiểm hiện diện trên máy. CHÚ THÍCH Phương pháp định lượng có thể thích hợp khi có các dữ liệu có ích. Tuy nhiên các phương pháp định lượng bị hạn chế bởi các dữ liệu có ích có thể dùng được và/hoặc các nguồn hạn hẹp của các dữ liệu này dùng để đánh giá rủi ro. Do đó trong nhiều ứng dụng việc dự đoán rủi ro theo định tính. Việc đánh giá rủi ro phải được tiến hành sao cho có thể lập được tài liệu về quy trình phải tuân theo các kết quả đạt được (xem Điều 9). 4.2. Thông tin cho đánh giá rủi ro Thông tin cho đánh giá rủi ro phải bao gồm các nội dung sau: a) liên quan đến mô tả máy; 1) yêu cầu kỹ thuật của người sử dụng; 2) đặc tính kỹ thuật dự tính của máy, bao gồm i) mô tả các giai đoạn khác nhau trong toàn bộ chu kỳ tuổi thọ của máy; ii) các bản vẽ thiết kế hoặc các biện pháp khác thiết lập bản chất của máy, và iii) các nguồn năng lượng yêu cầu và chúng được cung cấp như thế nào. 3) tài liệu về các thiết kế trước đây của máy tương tự, nếu có phù hợp. 4) thông tin về sử dụng máy, nếu có thể dùng được. b) liên quan đến các quy định, các tiêu chuẩn và các tài liệu khác áp dụng được: 1) các quy định áp dụng được; 2) các tiêu chuẩn có liên quan; 3) các tài liệu đặc tính kỹ thuật có liên quan; 4) bản dữ liệu an toàn. c) liên quan đến kinh nghiệm sử dụng 1) lịch sử về bất cứ tai nạn, sự cố hoặc sự sai hỏng nào của máy trên thực tế hoặc máy tương tự; 2) lịch sử về thiệt hại đến sức khỏe ví dụ do phát ra từ (tiếng ồn, rung, bụi, khói v.v…), các hóa chất được sử dụng hoặc các vật liệu được gia công trên máy. CHÚ THÍCH Một sự cố dẫn đến tổn hại có thể được xem như một "tai nạn", trong khi một sự cố đã xảy ra và không gây ra tổn hại có thể được xem như "hầu như thoát hiểm" hoặc "xuất hiện nguy hiểm". d) nguyên tắc ecgônômi phù hợp (xem 4.8, TCVN 7383-2:2003). Phải cập nhật thông tin vì sự phát triển của thiết kế hoặc cải tiến máy khi có yêu cầu. Thường có thể so sánh giữa các tình trạng nguy hiểm tương tự gắn liền với các kiểu máy khác nhau với điều kiện là phải có đầy đủ thông tin có thể dùng được về các mối nguy hiểm và hoàn cảnh tai nạn của các tình trạng này. Không nên giả định rủi ro là thấp khi lịch sử không có tai nạn, số lượng tai nạn nhỏ hoặc tính nghiêm trọng của tai nạn thấp. Để phân tích về mặt định lượng, có thể sử dụng dữ liệu từ các cơ sở dữ liệu, các sổ tay, các thông số kỹ thuật, trong phòng thí nghiệm hoặc của các nhà sản xuất với điều kiện là có đủ độ tin cậy về sự thích hợp của các dữ liệu. Sự không chắc chắn của các dữ liệu này phải được chỉ ra trong tài liệu (xem Điều 9).
TCVN 7387-3:2011 Điều 7.1
7.1. Lan can nằm ngang 7.1.1. Lan can phải được lắp đặt gần các vùng nguy hiểm ở đó có hố sâu hoặc đường đi qua (ví dụ, đường đi bộ tiếp cận quạt hút trên mái). 7.1.2. Khi chiều cao có thể bị ngã xuống vượt quá 500 mm, phải lắp đặt lan can. 7.1.3. Phải trang bị lan can khi khe hở giữa sàn và kết cấu của máy hoặc đường lớn hơn 200 mm hoặc nếu biện pháp bảo vệ kết cấu không tương đương với lan can. Tuy nhiên phải có một tấm chắn chân khi khe hở giữa sàn và kết cấu liền kề lớn hơn 30 mm. 7.1.4. Chiều cao tối thiểu của lan can phải là 1100 mm. 7.1.5. Lan can phải bao gồm ít nhất là một thanh chắn đầu gối ở giữa hoặc bất cứ biện pháp bảo vệ tương đương nào khác. Khoảng trống giữa tay vịn và thanh chắn đầu gối cũng như giữa thanh chắn đầu gối và tấm chắn không được vượt quá 500 mm. 7.1.6. Khi sử dụng các thanh thẳng đứng thay cho thanh chắn đầu gối thì khoảng trống theo phương ngang giữa các thanh này tối đa phải là 180 mm. 7.1.7. Tấm chắn chân là một tấm thẳng đứng cao ít nhất là 100 mm được đặt cách mức đi bộ và cạnh của sàn tối đa là 10 mm (xem Hình 4). 7.1.8. Khoảng cách giữa các đường trục của các trụ bên nên được giới hạn tới 1500 mm. Nhưng nếu khoảng cách này bị vượt quá thì phải có sự chú ý riêng tới độ bền kẹp chặt trụ bên và các cơ cấu kẹp chặt. 7.1.9. Trong trường hợp tay vịn được làm gián đoạn, để ngăn ngừa sự kẹt tay, khoảng trống giữa hai đoạn tay vịn không được nhỏ hơn 75 mm và không lớn hơn 120 mm (xem Hình 5). Nếu có độ hở lớn hơn thì phải sử dụng cửa tự đóng. 7.1.10. Khi có yêu cầu tiếp cận qua lan can, phải sử dụng cửa tự đóng. Cửa phải có tay vịn và thanh chắn đầu gối được định vị ở cùng một mức như mức của lan can kéo dài (để đi ra khỏi khu vực cầu thang, xem TCVN 7387-4 (ISO 14122-4). Bất cứ cửa nào cũng phải tự đóng và phải được thiết kế để mở trên sàn hoặc nền và phải đóng tựa vào một cữ chặn chắn để ngăn ngừa người sử dụng đẩy vào cửa và ngã qua khung cửa. Các cửa phải chịu cùng một chuẩn mực chất tải như lan can. 7.1.11. Các đầu mút của tay vịn phải được thiết kế sao cho loại trừ được bất cứ rủi ro gây tổn hại nào bởi các cạnh sắc của sản phẩm hoặc vướng mắc vào quần áo của người sử dụng.
TCVN 7435-2/2004 Mục 4.2.1
4.2 Kiểm tra 4.2.1 Bình chữa cháy phải được kiểm tra khi lần đầu đưa vào sử dụng và sau đó phải được kiểm tra định kỳ khoảng 30 ngày. Bình chữa cháy phải được kiểm tra với chu kỳ ngắn hơn khi có yêu cầu.
TCVN 9059:2011 Điều 5.2.3, Điều 5.4.1
5.2.3 Kiểm soát sự tiếp cận vùng nguy hiểm Khi có thể thực hiện được, các bộ phận che chắn di động phải được thiết kế và xác định vị trí sao cho trong quá trình vận hành bình thường chúng phải được ngăn ngừa không cho đóng cùng với người trong vùng nguy hiểm. Khi không thể thực hiện được yêu cầu này, phải sử dụng các biện pháp khác để ngăn ngừa không cho người ở trong vùng nguy hiểm mà không được phát hiện. .... 5.4.1 Các cạnh sắc Các bộ phận che chắn phải có kết cấu sao cho không được phơi ra các cạnh sắc, các góc hoặc các phần nhô ra gây ra nguy hiểm khác.
TCVN 9385/2012 Điều 27
27. Kiểm tra Toàn bộ hệ thống chống sét nên được một người có trình độ chuyên môn thích hợp kiểm tra kỹ bằng mắt thường trong suốt quá trình lắp đặt, sau khi hoàn thành và sau khi thay đổi hoặc mở rộng, để xác nhận rằng chúng được làm tuân thủ theo tiêu chuẩn này. Việc kiểm tra nên được tiến hành định kỳ, tốt nhát là không quá 12 tháng. Đối với các khu vực có điều kiện khí hậu khắc nghiệt nên tăng tần suất kiểm tra. Thêm nữa, trạng thái cơ học của tất cả các dây dẫn, liên kết, mối nối và các điện cực đất (bao gồm các điện cực tham chiếu) nên được kiểm tra và ghi chép lại. Nếu với bất kỳ lý do nào, như do các công việc khác tại công trường tạm thời không thể xem xét các phần lắp đặt cụ thể thì cũng nên ghi chép lại điều đó. Trong suốt quá trình xem xét định kỳ hệ thống chống sét, việc ghép nối bất kỳ bộ phận bổ sung nào mới nên được kiểm tra để đảm bảo rằng nó phù hợp với những quy định của tiêu chuẩn này.
TGLV
Thời gian làm việc
TGNN
Thời gian nghỉ ngơi